Luật Sở hữu trí tuệ

File đính kèm

  • Tải về BÁO CÁO RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT – LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ RÀ SOÁT LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

VÀ CÁC KIẾN NGHỊ


TS. Dương Tử Giang, TS. Phạm Vũ Khánh Toàn – VPLS Phạm và Liên danh

Với sự phối hợp của Công ty luật Baker & Mc Kenzie



MỤC I - PHẦN MỞ ĐẦU

Bối cảnh của hệ thống văn bản pháp luật SHTT được rà soát trong Báo cáo này

Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19/11/2005 và có hiệu lực vào ngày 01/07/2006 (Luật SHTT 2005). Luật SHTT 2005 ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn đàm phán ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới gọi tắt là WTO với mục tiêu đáp ứng tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPS, đồng thời thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Luật SHTT 2005 qui định về bảo hộ quyền tác giả, các quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và thực thi quyền đối với các quyền nêu trên.

Trước khi Luật SHTT 2005 ra đời, các qui định cơ bản về bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam được qui định trong Bộ luật dân sự 1996. Các văn bản hướng dẫn thực hiện các qui định này được qui định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật dưới các hình thức Nghị định, Thông tư và Chỉ thị. Luật SHTT 2005 ra đời không chỉ tập hợp, kế thừa mà còn sửa đổi, bổ sung, hệ thống hóa và nâng cao tính pháp lý của những qui định này nhằm tạo ra một hệ thống pháp luật SHTT thống nhất, đầy đủ, hiệu quả và đủ mạnh ở Việt nam, đáp ứng những yêu cầu của Hiệp định TRIPS và phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật SHTT 2005 đồng thời cũng khắc phục những thiếu sót và giảm tối đa những mâu thuẫn, chồng chéo của các qui định về SHTT trong các văn bản pháp luật khác nhau, và do đó giúp việc thực hiện luật thuận lợi hơn.[1]

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự và Luật SHTT 2005, các văn bản pháp luật như Nghị định và Thông tư cũng đã được ban hành kịp thời bao gồm:

  • Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/8/2006 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2010 (“Nghị định 103”);
  • Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 (“Nghị định 105”);
  • Nghị định số 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp (“Nghị định 97”);
  • Nghị định số 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (“Nghị định 100”);
  • Nghị định 104/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về việc qui định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về quyền đối với giống cây trồng (“Nghị định 104”);
  • Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp (“Thông tư 01/2007”);
  • Thông tư 01/2008/TT-BKHCN ngày 25/02/2008 hướng dẫn việc cấp,thu hồi Thẻ giám định viên sở hữu công nghiệp và Giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp (“Thông tư 01/2008”);

Tuy nhiên quá trình áp dụng Luật SHTT 2005 trong thực tiễn cho thấy nhiều qui định vẫn chưa phù hợp trong hoạt động thực thi bảo vệ quyền, một số điều khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế, có một số điều khoản có lỗi kỹ thuật, một số qui định về thủ tục chưa rõ ràng, cụ thể v.v…Vì vậy Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi, bổ sung trên tinh thần quán triệt các quan điểm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, quy phạm hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Luật SHTT 2005 đã được sửa đổi bổ sung theo các hướng: (i) sửa đổi một số điều khoản có nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế đa phương, các điều khoản khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập; (ii) sửa đổi một số điều khoản đang nảy sinh các vướng mắc trong thực thi; và (iii) chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật về nội dung văn bản và các từ ngữ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Ngày 19/06/2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005.

Hiện nay mặc dù hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, khá hoàn chỉnh và khá phù hợp với các tiêu chuẩn của các điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, song vẫn cần thiết phải tiếp tục được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức để bảo đảm hơn nữa tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công bằng khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, phù hợp hơn với thực tiễn ở Việt Nam cũng như phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Với mục tiêu như vậy, việc rà soát Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, được sửa đổi bổ sung theo qui định của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật SHTT được Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ 5 thông qua ngày 19/06/2009 (sau đây gọi chung là “Luật SHTT”) và các Nghị định và Thông tư hướng dẫn luật này (như liệt kê ở trên) được thực hiện nhằm chỉ ra những thiếu sót về nội dung và hình thức trên cơ sở những khó khăn thực tiễn đang gặp phải trong quá trình thực hiện luật này và so sánh đối chiếu với các hiệp ước quốc tế liên quan, đồng thời đề xuất khuyến nghị để khắc phục những thiếu sót đó.


TIÊU CHÍ RÀ SOÁT

STT

Tiêu chí

Các nội dung cụ thể

1

Tính minh bạch

- Rõ ràng về hình thức:

+ Ngôn ngữ sử dụng có chính xác, dễ hiểu không?

+ Diễn đạt có rõ ràng không? Có thể bị hiểu theo nhiều cách khác nhau không?

- Rõ ràng trong các quy định áp dụng cho doanh nghiệp:

+ Rõ ràng về quyền và nghĩa vụ không?

+ Rõ ràng về các trình tự, thủ tục, chi phí (thời gian, phí, lệ phí) không?

- Có nguy cơ cho nhũng nhiễu, tham nhũng không?

2

Tính thống nhất

- Có tuân thủ với các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn không?

- Có mâu thuẫn giữa các quy định trong bản thân văn bản đó không? Có mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác không?

- Có tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia không?

3

Tính hợp lý

- Có đơn giản hóa được các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, giảm chi phí cho doanh nghiệp không?

-  Có đưa ra những quy định bất hợp lý, cản trở quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp không?

-  Có phù hợp với sự phát triển bền vững (về trách nhiệm của doanh nghiệp, về lợi ích của người tiêu dùng, về nguyên tắc cung-cầu và cạnh tranh bình đẳng…) không?

-  Có phân biệt đối xử không?

4

Tính khả thi

- Có khả năng doanh nghiệp thực hiện được trên thực tế không?

- Có khả năng cơ quan Nhà nước thực hiện trên thực tế được không? (điều kiện về tổ chức, nhân lực, vật lực).


MỤC II- NHỮNG NỘI DUNG RÀ SOÁT VÀ KHUYẾN NGHỊ

Việc rà soát được tập trung thẳng vào những điểm mà chúng tôi cho rằng văn bản pháp luật như đề cập ở trên không hoặc chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí đề ra, tiêu chuẩn quốc tế, và/hoặc những qui định mà khi áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn đối với cả cơ quan quản lý nhà nước và/hoặc chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ.

I. RÀ SOÁT CÁC QUI ĐỊNH CHUNG CỦA LUẬT SHTT

STT

Vấn đề

Qui định liên quan

Tiêu chí bị vi phạm

Phân tích vấn đề

1

Phí và lệ phí nộp đơn

Thông tư 22/2009/TT-BTC

Tính hợp lý

Thực tiễn áp dụng

Phí và lệ phí cho việc nộp đơn xin bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp hiện nay vẫn áp dụng thống nhất cho cả chủ thể Việt nam lẫn chủ thể nước ngoài (theo nguyên tắc đối xử quốc gia) nên xảy ra tình huống là nếu mức phí phù hợp với tác giả trong nước thì lại quá thấp đối với người nộp đơn nước ngoài, gây thất thu ngân sách, còn nếu mức phí phù hợp với người nộp đơn nước ngoài thì lại quá cao với tác giả trong nước, không khuyến khích người Việt nam nộp đơn.

Khuyến nghị:

Nên qui định một mức phí thấp, ví dụ bằng 1/3 mức thông thường cho người nộp đơn đến từ các nước có GDP dưới 3000 USD, hoặc đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có số nhân viên dưới 500 người, không phân biệt quốc tịch. Do tuyệt đại bộ phận đơn sở hữu trí tuệ nước ngoài là đến từ các nước có thu nhập trên 10.000 USD hoặc đến từ các tập đoàn lớn có hàng ngàn nhân viên nên theo cách trên có thể phân biệt đối xử đối với người Việt nam và người nước ngoài mà không vi phạm các cam kết quốc tế của Việt nam. Trên thực tế nhiều nước, ví dụ Mỹ, cũng có những qui định tương tự (35 U.S.C. 41h(1)).

2

Không cho phép các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cung cấp dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (ĐDSHCN) tại Việt Nam

Khoản 1, Điều 154 của Luật SHTT

1.Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;

Tính thống nhất

Việc không cho phép các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thành lập tại Việt Nam cung cấp dịch vụ ĐDSHCN là không phù hợp với cam kết WTO của Việt Nam vì điều này trái với cam kết về Mở cửa Thị trường và cam kết Đối xử Quốc gia trong dịch vụ pháp lý. Cụ thể như sau:

1. Dịch vụ pháp lý là dịch vụ Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường và áp dụng đối xử quốc gia:

Điều XVI.2 của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO chỉ cho phép Thành viên của WTO duy trì các quy định về giới hạn mở cửa thị trường nếu các giới hạn đó đã được quy định cụ thể tại Biểu cam kết về dịch vụ của chính Thành viên đó. Tương tự, Điều XVII của GATS yêu cầu tất cả các Thành viên WTO phải dành cho các dịch vụ đã được quy định tại Biểu cam kết nguyên tắc Đối xử Quốc gia mà theo đó doanh nghiệp trong và ngoài nước được đối xử bình đẳng.

Theo cam kết WTO của Việt Nam về dịch vụ pháp lý tại Biểu cam kết về dịch vụ, Việt Nam

P cho phép tổ chức Luật sư nước ngoài được có hiện diện thương mại tại Việt Nam; và

P không hạn chế trong đối xử quốc gia trong hoạt động giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước (có nghĩa là doanh nghiệp trong và ngoài nước được đối xử công bằng như nhau);

2. Dịch vụ ĐDSHCN là một phần của dịch vụ pháp lý được cam kết mở cửa và đối xử quốc gia theo WTO:

Theo Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam dịch pháp lý là dịch vụ thuộc phân loại CPC861, bao gồm các phân ngành sau:

– 8611 – Dịch vụ tư vấn và đại diện pháp luật trong các lĩnh vực luật pháp khác nhau

– 8612 – Dịch vụ tư vấn và đại diện pháp luật trong thủ tục pháp lý trong các vụ việc trước các cơ quan tài phán, ban ngành v.v…

– 8613 – Dịch vụ giấy tờ pháp lý và chứng nhận

– 8619 – Dịch vụ thông tin và tư vấn pháp lý khác

Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp rơi vào nhóm dịch vụ 86120 và/hoặc 8619. Cụ thể là:

- nhóm 86120 gồm “Dịch vụ tư vấn và đại diện pháp luật đối với các thủ tục pháp lý trước các cơ quan tài phán, ban ngành, v.v…”

Theo chú thích của CPC, nhóm này bao gồm “dịch vụ tư vấn và đại diện trong các thủ tục tố tụng, và dịch vụ soạn thảo các văn bản pháp lý liên quan đến các thủ tục bắt buộc.

Dịch vụ này bao gồm việc đại diện một khách hàng trước các cơ quan nhà nước (chẳng hạn trước cơ quan tài phán hành chính). Nhóm dịch vụ này còn bao gồm việc bào chữa cho một vụ việc trước một cơ quan có thẩm quyền không phải là tòa án và các công việc liên quan đến luật pháp khác. Các dịch vụ liên quan đến luật pháp khác bao gồm công việc nghiên cứu và các công việc khác nhằm chuẩn bị cho một vụ việc không phải là vụ việc tố tụng (ví dụ: nghiên cứu chứng cứ, phỏng vấn nhân chứng, xem xét các bản báo cáo) và thực hiện các công việc sau tố tụng.”

- nhóm dịch vụ 8619: “ các dịch vụ tư vấn và thông tin khác”

Cũng theo Biểu cam kết về dịch vụ, Việt Nam đã liệt kê hai ngoại trừ dưới đây ra khỏi cam kết về đối xử quốc gia và mở cửa thị trường liên quan đến nhóm dịch vụ pháp lý:

  1. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hay đại diện cho khách hàng của mình trước tòa án Việt Nam; và
  2. Dịch vụ giấy tờ pháp lý và công chứng liên quan đến pháp luật Việt Nam.

Như đã trình bày trên đây, rõ ràng dịch vụ ĐDSHCN không thuộc nhóm dịch vụ loại trừ do vậy các cam kết về Mở cửa Thị trường và Đối xử Quốc gia sẽ áp dụng đối với dịch vụ ĐDSHCN.

Việc không cho phép các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cung cấp dịch vụ ĐDSHCN là một hình thức giới hạn được liệt kê tại Điều XVI.2 của GATS3 mà thành viên WTO không được phép duy trì hoặc áp dụng trừ khi hình thức giới hạn này đã được quy định cụ thể tại Biểu cam kết về dịch vụ. Do dịch vụ ĐDSHCN thuộc nhóm dịch vụ pháp lý mà Việt Nam đã cam kết như trình bày trên đây và việc không cho phép các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cung cấp dịch vụ này không hề được quy định trong Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam, nên việc áp dụng hoặc duy trì sự giới hạn này là không phù hợp với quy định tại Điều XVI.2 của GATS. Tương tự, việc cấm các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cung cấp dịch vụ ĐDSHCN có nghĩa là các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài bị đối xử kém ưu đãi hơn so với các tổ chức hành nghề luật sư trong nước và việc này là vi pham Điều XVII của GATS.

Khuyến nghị:

Do dịch vụ ĐDSHCN không thuộc các dịch vụ pháp lý loại trừ trên đây, nên cam kết về Mở cửa Thị trường và nguyên tắc Đối xử Quốc gia phải được áp dụng. Hay nói cách khác, theo như cam kết gia nhập WTO, các tổ chức hành nghề luật sư trong nước và các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài là hoàn toàn bình đẳng trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý (trừ các ngoài trừ nêu trên), bao gồm cả dịch vụ ĐDSHCN.

Vì vậy, đề nghị bỏ cụm từ “trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam” ra khỏi Khoản 1, Điều 154 của Luật SHTT.

3

Thành lập Tòa chuyên trách về SHTT

Không có qui định tương ứng

Tính hợp lý

Thực tiễn áp dụng

Hiện nay hình thức xử lý vi phạm quyền SHTT được áp dụng phổ biến là xử phạt hành chính vì thủ tục nhanh chóng, ít tốn kém. Tuy nhiên cách làm này có nhiều bất cập. Thứ nhất là những tranh chấp phức tạp, kéo dài như tranh chấp về sáng chế thì không thể giải quyết thông qua xử phạt hành chính. Thứ hai, việc chỉ áp dụng xử phạt hành chính sẽ biến việc xử lý vi phạm quyền SHTT thành độc quyền của một số cơ quan quản lý nhà nước. Thế nhưng nhìn từ một khía cạnh khác thì có thể thấy rằng hệ thống tòa án hiện nay chưa đủ năng lực để xét xử các vụ án phức tạp liên quan đến quyền SHTT, mọi phán quyết của tòa đều phải dựa trên ý kiến chuyên môn của Cục SHTT mà cơ quan này nhiều khi lại là một bên tranh chấp.

Khuyến nghị

Thành lập Tòa chuyên trách về SHTT với các thẩm phán được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này.

4

Căn cứ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT

Điều 211 khoản 1 Luật SHTT

“1. Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính:

a) Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

Tính thống nhất

Thực tiễn áp dụng

Xử phạt vi phạm hành chính là xử lý hành vi xâm phạm trật tự công, quyền quản lý nhà nước về SHTT, nên không cần xem xét đến yếu tố có gây thiệt hại hay không. Nếu hành vi xâm phạm có gây thiệt hại cho cá nhân thì phải giải quyết thông qua vụ án dân sự để đòi bồi thường. Việc đưa điều kiện “gây thiệt hại” vào điều này gây khó khăn cho quá trình thực thi.

Khuyến nghị

Sửa lại khoản 1 Điều 211 Luật SHTT bằng cách loại bỏ yêu tố “gây thiệt hại” như là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính.

II. RÀ SOÁT QUI ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN SÁNG CHẾ



...

Để đọc toàn văn báo cáo, mời bạn tải toàn văn theo File đính kèm tại đầu trang

Ý kiến đóng góp

Tổng số 1 ý kiến. Trang 1/1
  • Hồ Hữu Dưỡng(mekongiso@...) - 16/09/2011
    Chúng tôi góp ý về cách thực hiện.
    Xin nêu cụ thể: Công ty chúng tôi đổi tên từ Công ty liên doanh sang công ty Trách nhiệm hữu hạn.
    Việc này đã được Công ty đăng báo 3 ngày liên tiếp theo đúng qui định.
    Khi gởi thông báo thay đổi tên Công ty đến Qúy Cục, chúng tôi lại phải làm đơn thay đổi và đóng lệ phí cho mỗi đăng ký. Điều này gây mất thời gian cho doanh nghiệp.
    Chúng tôi đề nghị Qúy Cục xem lại vấn đề này.
    Trân trọng kính chào.
Trang1
Xin hãy điền đầy đủ những thông tin yêu cầu ở form sau và gửi ý kiến của bạn cho chúng tôi.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các bạn.
Họ và tên : *
Địa chỉ :
Email : *
File đính kèm :
Ý kiến của bạn : * (tối đa 3500 ký tự)
* Mã bảo vệ: