Luật Hải quan

File đính kèm

  • Tải về BÁO CÁO RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT - LUẬT HẢI QUAN 2001, SỬA ĐỔI 2005

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KẾT QUẢ RÀ SOÁT VĂN BẢN PHÁP LUẬT - LUẬT HẢI QUAN 2001, SỬA ĐỔI 2005

                                                           Đặng Thị Bình An - Chủ tịch HĐTV Công ty tư vấn thuế C&A-Trưởng nhóm


Phần I. Rà soát, đánh giá và khuyến nghị

Theo yêu cầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành rà soát Luật Hải quan 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan (dưới đây gọi tắt là Luật Hải quan) cũng như các văn bản quy định chi tiết thi hành, đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung cũng như các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia, đồng thời đối chiếu với kết quả theo dõi, tổng hợp những phản ánh vướng mắc của các doanh nghiệp trong thời gian qua nhằm tìm ra những điểm mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu minh bạch, những điểm không hợp lý gây cản trở, khó khăn cho các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu của hệ thống pháp luật về hải quan nhằm đưa ra những ý kiến góp ý cho Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở hoàn thiện thể chế pháp luật một cách có hiệu quả.

Việc rà soát dưới đây được tiến hành dựa trên các tiêu chí:

  1. Tính minh bạch
  2. Tính thống nhất
  3. Tính hợp lý
  4. Tính khả thi

Kết quả rà soát và kiến nghị cụ thể được thể hiện theo bảng dưới đây  

A- RÀ SOÁT, ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ TỪNG VẤN ĐỀ THEO CÁC TIÊU CHÍ NÊU TRÊN

STT

Vấn đề

Quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề

Tiêu chí chưa đạt

Phân tích vấn đề (dựa trên các tiêu chí, nêu rõ khó khăn doanh nghiệp gặp phải do quy định này, v.v…)

1

Quy định về việc giao dịch với cơ quan hải quan thông qua bên thứ ba và đối tượng được hoạt động với tư cách "người khai hải quan” chưa đầy đủ và thống nhất

Khoản 7 Điều 4, Điều 21 Luật Hải quan; Điều 5 Nghị định 154/2005/NĐ-CP; Điều 8 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP

Tính thống nhất, tính hợp lý,

- Về việc giao dịch với cơ quan hải quan qua bên thứ ba:

Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi) từ năm 2008. Công ước này có quy định về quan hệ giữa bên thứ 3 với cơ quan hải quan như sau:

+ Chuẩn mực 8.2 Phụ lục tổng quát: “Luật pháp quốc gia phải quy định những điều kiện trong đó một người có thể hoạt động vì và thay mặt cho một người khác trong quan hệ với cơ quan Hải quan và phải định rõ trách nhiệm của bên thứ ba đó về các khoản thuế hải quan và thuế khác cũng như về bất cứ hành vi vi phạm nào”.

+ Chuẩn mực 8.5 Phụ lục tổng quát: “Cơ quan Hải quan phải cho phép bên thứ ba được tham dự vào các cuộc tham vấn chính thức của Hải quan với doanh nghiệp

+ Chuẩn mực 8.6 Phụ lục tổng quát: “Cơ quan Hải quan phải quy định rõ những tình huống Hải quan từ chối không tiến hành giao dịch với bên thứ ba”.

+ Chuẩn mực 8.7 Phụ lục tổng quát: “Cơ quan Hải quan phải thông báo bằng văn bản cho bên thứ ba về mỗi quyết định không tiến hành giao dịch

Theo định nghĩa của Công ước Kyoto thì “bên thứ ba” là bất cứ người nào giao dịch trực tiếp với cơ quan hải quan, vì lợi ích và thay mặt cho một người khác, liên quan đến việc nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển hay lưu kho hàng hóa. Như vậy, “bên thứ ba” có thể là đại lý hải quan, người giao nhận hàng, người vận chuyển đa phương thức… và họ có thể thay mặt chủ hàng thực hiện một hoặc một số giao dịch với cơ quan hải quan.

Tuy nhiên, Luật Hải quan mới đề cập đến các nội dung này dưới góc độ bên thứ ba là đại lý hải quan. Điều 21 Luật Hải quan và Điều 8 Nghị định 14/2011/NĐ-CP chỉ đề cập đến nội dung "làm thủ tục hải quan" của đại lý hải quan, thực chất là đại lý khai thuê hải quan. Luật Hải quan chưa đề cập đến các công việc khác trong mối quan hệ giao dịch với cơ quan hải quan. Ví dụ như:  tham vấn giá, khai hồ sơ thanh khoản, khai quyết toán thuế…

Vì vậy, Luật hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa quy định đầy đủ các nội dung về "bên thứ ba" như Công ước Kyoto nên chưa thực sự tạo thuận lợi để các doanh nghiệp chủ hàng sử dụng dịch vụ đối với các hoạt động không thuộc chuyên sâu của họ, tạo cơ hội cho việc phát triển hoạt động các dịch vụ hải quan.

- Về người khai hải quan:

Chuẩn mực 3.7 Công ước Kyoto quy định: “bất cứ người nào có quyền sắp đặt hàng hoá đều có quyền hoạt động với tư cách người khai hải quan”.

Quy định này đem lại sự thuận tiện quan trọng trong thương mại, theo đó cho phép bất kỳ người nào hoạt động đại diện cho chủ hàng như người vận tải, người nhận hàng, đại lý giao nhận hoặc đại lý hải quan có quyền khai báo hàng hóa. Khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan có đưa ra khái niệm “người khai hải quan là…  người được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền” nhưng không có quy định cụ thể về nội dung (đối tượng, quyền, nghĩa vụ…). Đối tượng "người khai hải quan" được chi tiết tại Điều 5 Nghị định 154/2005/NĐ-CP với phạm vi “uỷ quyền” chỉ được áp dụng trong trường hợp:

+ Người được uỷ quyền khai và làm thủ tục cho hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại;

+ Đại lý làm thủ tục hải quan.

Như vậy, quy định tại Nghị định hẹp hơn định nghĩa ở Luật và hẹp hơn quy định tại Công ước Kyoto. Việc này đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn uỷ quyền khai hải quan, làm hạn chế sử dụng dịch vụ trong khai thuê hải quan, dẫn đến hạn chế áp dụng một số điều kiện giao hàng (VD: EXW, DPP) trong thương mại quốc tế.

Khuyến nghị: Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi khuyến nghị

Cần sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan và Nghị định 154 theo hướng quy định đầy đủ những nội dung về hoạt động của bên thứ ba trong giao dịch với cơ quan hải quan nói chung cũng như “khai hải quan”  nói riêng và quyền, nghĩa vụ của đối tượng này như quy định tại Công ước Kyoto. Cụ thể:

i)                    Quy định rõ các điều kiện để một bên được hoạt động với tư cách là "bên thứ ba", và với tư cách là "người khai hải quan", theo đó ngoài đại lý hải quan cần mở rộng thêm các đối tượng khác như đại lý vận tải, dịch vụ logistic, người được uỷ quyền...;

ii)                   Quy định rõ những trường hợp cơ quan hải quan từ chối tiến hành giao dịch với bên thứ ba;

iii)                 Phân định rõ quyền, nghĩa vụ của "bên thứ ba" và chủ hàng trước pháp luật.


...

Để đọc toàn văn báo cáo, mời bạn tải toàn văn theo liên kết tại đầu trang

Ý kiến đóng góp

Tổng số 1 ý kiến. Trang 1/1
  • Nguyễn Ánh Tuyết(ntuyet@...) - 09/09/2011
    STT3: Tôi đồng ý với ý kiến của LeadCo, tuy nhiên tôi muốn bổ sung ý kiến sau: Với sự phát triển vượt bậc của CNTT hiện nay, phải có khái niệm Thế nào là hóa đơn bản gốc, hợp đồng trong bộ hồ sơ hải quan. Vì ở các công ty lớn thường sử dụng đặt hàng qua hệ thống máy tính nên không có hợp đồng cho từng lần đặt hàng, hoặc có thì cũng không theo format quy định, không đầy đủ các tiêu chí. Tương tự như vậy Hóa đơn bản gốc cũng không nhất thiết phải có chữ ký gốc.

    STT16: Hoàn toàn đồng ý với LeadCo: Việc thực hiện không nhất quán điều 41 Luật Hải quan mang đến sực rắc rối, tăng chi phí cho các doanh nghiệp
Trang1
Xin hãy điền đầy đủ những thông tin yêu cầu ở form sau và gửi ý kiến của bạn cho chúng tôi.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các bạn.
Họ và tên : *
Địa chỉ :
Email : *
File đính kèm :
Ý kiến của bạn : * (tối đa 3500 ký tự)
* Mã bảo vệ: